Luật sư Nguyễn Văn Đài
Trong những
ngày vừa qua, có rất nhiều những người hoạt động nhân quyền và một số thân hữu
khi xuất cảnh đi nước ngoài học tập, du lịch, thăm bạn bè đã bị dừng xuất cảnh.
An ninh đã
tiến hành thẩm vấn những người bị dừng xuất cảnh. Do hầu hết các anh em hoạt
động nhân quyền và các thân hữu chưa có kinh nghiệm nên bị cuốn vào các câu hỏi
thẩm vấn của an ninh mà lại quên mất quyền của chính mình.
Kinh nghiệm
đầu tiên cần nhớ là: Chúng ta luôn luôn chuẩn bị tâm lý có thể sẽ bị dừng xuất
cảnh và bị thẩm vấn. Chúng ta luôn sẵn sang đối phó với việc thẩm vấn của rất
nhiều an ninh. Thái độ của an ninh có thể là khủng bố tinh thần như đe dọa,
quát tháo hoặc họ dụ dỗ. Khi chúng ta có tâm lý chuẩn bị như vậy thì chúng ta
sẽ có sự bình tĩnh, can đảm và sáng suốt.
Kinh nghiệm
thứ hai: Không trả lời câu hỏi của an ninh, mà chúng ta đưa ra yêu cầu của
mình.
An ninh
thường sử dụng bài đánh phủ đầu bằng 1 vài thông tin mà họ nắm được, phán đoán,
thậm chí phịa ra làm cho chúng ta lầm tưởng là họ biết tất cả rồi. Việc chúng
ta có khai báo hay không chỉ để xem mức độ thành thật của chúng ta.
Nhưng cho dù
họ nói gì, hỏi gì ngay ban đầu. Chúng ta cứ bình thản, im lặng và suy nghĩ.
Không trả lời câu hỏi của họ. Câu đầu tiên mà chúng ta nói là:
Đề nghị các
anh cho tôi biết lý do tôi bị dừng xuất cảnh? Tôi có quyền thông báo cho gia
đình và người thân về việc tôi bị tạm giữ.
1/ Nếu an
ninh không đáp ứng yêu cầu và trả lời lý do thì chúng ta cự tuyệt và không bao
giờ trả lời bất kỳ câu hỏi nào của họ.
2/ Nếu họ đưa
ra lý do chung chung như có dấu hiệu, nghi ngờ,… vi phạm an ninh quốc gia thì
chúng ta tiếp tục yêu cầu họ:
Đề nghị các
anh đưa ra bằng chứng để chứng minh điều các anh nói? Và yêu cầ các anh cho
biết tôi đã vi phạm điều luật và văn bản pháp luật nào?
An ninh chẳng
bao giờ có bằng chứng cả. Vì việc chúng ta đi học tập, du lịch, thăm bạn là hợp
pháp.
Nhưng an ninh
sẽ áp đặt các câu hỏi để bắt chúng ta trả lời như:
1/ Anh chị đi
đâu?
Trả lời: Anh
nhìn vào vé thì biết, không cần phải hỏi. Tôi không trả lời. Tôi tiếp tục yêu
cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng chứng?
2/ Ai mời hay
tổ chức nào mời anh chị đi?
Trả lời: Đây
là chuyện riêng của tôi. Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất
cảnh và đưa ra bằng chứng?
3/ Ai mua vé
cho anh chị?
Trả lời: Tại
sao tôi phải trả lời anh? Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất
cảnh và đưa ra bằng chứng?
4/ Anh chị có
biết Hội.. này không?
Trả lời: Việc
biết Hội này hay Hội kia không liên quan đến việc các anh dừng xuất cảnh của
tôi. Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng
chứng?
5/ Anh chị có
quen anh A hay chị B không?
Trả lời: Việc
quen ai là chuyện riêng của tôi, tôi không có nghĩa vụ cho các anh biết. Tôi
tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng chứng?
Tóm lại: Cho
dù an ninh có hàng trăm, hàng nghìn câu hỏi, thì chúng ta không bao giờ cho họ
câu trả lời. Đó là quyền riêng tư, quyền bảo vệ bí mật cá nhân của bạn. Điều 21
Hiếp pháp VN 2013 qui định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân và bí mật gia đình”. Bạn có
quyền giữ bí mật đó, bạn không có nghĩa vụ trả lời an ninh. Không có bất cứ một
điều luật nào của Việt Nam bắt bạn phải trả lời.
Họ muốn làm
gì chúng ta, họ phải đưa ra lý do, bằng chứng và văn bản luật tương ứng.
Họ không đưa
ra lý do, không có bằng chứng, không có văn bản luật. Họ đang chà đạp Hiến
pháp, pháp luật, và họ đang chà đạp lên các quyền con người của bạn. Mà cụ thể
ở đây là “quyền tự do đi ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về nước” theo điều
23 Hiến pháp VN 2013 đang họ vi phạm.
Luật sư Nguyễn Văn Đài
Hiện nay,
nhiều đại biểu quốc hội, chuyên gia pháp lý, luật sư, luật gia đang tranh luận,
thảo luận, kiến nghị để đưa quyền im lặng vào luật Tố tụng hình sự. Đó là một
việc làm tốt và ý nghĩa.
Nhưng theo
tôi, điều quan trọng và cần phải làm ngay là phổ biến, quảng bá mọi người dân
biết là họ đã có quyền im lặng mỗi khi bị công an, an ninh, điều tra viên thẩm
vấn và sách nhiễu. Quyền im lặng là một quyền tự nhiên, vốn có của mọi người
ngay từ khi được sinh ra. Việc được ghi vào luật chỉ là một hình thức thừa nhận
công khai mà thôi.
Hỏi là quyền
của an ninh, công an, điều tra viên. Nhưng cái đầu và cái miệng là do Thượng Đế
và cha mẹ ban cho chúng ta. Thay vì trả lời câu hỏi của họ, chúng ta có quyền
im lặng, có quyền cầu nguyện, có quyền hát.
Theo điều 48
bộ luật Hình sự, giữ im lặng khi đang bị thẩm vấn, bị điều tra không phải là
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đừng bao giờ lo sợ trước sự đe dọa của
an ninh, công an, điều tra viên. Bởi hành vi đe dọa của an ninh, công an, điều
tra viên là một hình thức truy bức. Điều 6 bộ luật Tố tụng HS nghiêm cấm mọi
hình thức truy bức, nhục hình.
Không ai có
thể bảo vệ được bạn, chỉ có bạn tự bảo vệ mình trước khi nhận được sự giúp đỡ
của người khác. Giữ im lặng sẽ bảo vệ chính bạn. Giữ im lặng thể hiện bản lĩnh,
sự hiểu biết và thông thái của bạn.
Đừng bao giờ
lo sợ trước đe dọa của an ninh, công an, điều tra viên. Đừng bao giờ nao núng
hay mềm lòng trước sự dụ dỗ của họ.
Hãy đứng
vững, vượt qua thử thách, bạn sẽ trưởng thành.
CÁC BẠN ĐI XE MÁY HÃY CHÚ Ý KHI BỊ CSGT LÀM TIỀN.
- CSGT: Em cho anh kiểm tra giấy tờ!
- Mình: Chào đồng chí, đồng chí chưa chào tôi theo đúng điều lệnh!
- CSGT: Ừ…à
(Lúc này mới đưa tay chào theo điều lệnh và đổi giọng) Đề nghị anh cho xem giấy
tờ.
- Mình: Theo điều 14 thuộc thông tư 65 quy định về điều kiện CSGT được dừng
phương tiện đang lưu thông để kiểm tra, kiểm soát nếu ko có mệnh lệnh tổng kiểm
soát thì đồng chí phải có trách nhiệm thông báo lỗi của tôi trước khi yêu cầu
kiểm tra giấy tờ!
- CSGT: [Biến sắc] Anh chạy xe quá tốc độ cho
phép!
- Mình: Đồng chí có bằng chứng ko?
- CSGT: Bằng chứng thì 15 ngày sau lên đóng
phạt rồi lấy
(Câu này nghe mãi nhàm rồi, nhất là CSGT ở Đồng Nai)
- Mình: Đồng chí có cần tôi nhắc lại điều 3 nguyên tắc xử lý vi phạm hành
chính, luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ko?
- CSGT: [Tái mặt tập 2, lảng đi chỗ khác, kêu
1 anh CA khác tới]
- Mình: Tôi đang làm việc với đồng chí kia, đồng chí nào dừng xe tôi thì tôi
làm việc với đồng chí đó!
- CSGT 2: Có việc gì đấy anh!
- Mình: Đồng chí bảo với CSGT lúc nãy dừng xe của tôi lại báo cáo lại cho đồng
chí rõ nhé!
- CSGT 2: Mời anh đến làm việc với sếp của
chúng tôi!
- Mình: Đứng nãy giờ tôi chưa rõ mình vi phạm gì, vậy cho nên đồng chí mời sếp
của đồng chí đến đây làm việc với tôi!
- CSGT 2: Chúng tôi có thể đưa xe về đồn, anh
đang chống người thi hành công vụ.
- Mình: Còn tôi thì có thể kiện đồng chí tội vu khống và làm sai luật!
CSGT 2 bỏ đi. Sau 1 lúc “hội ý“, CSGT lúc đầu
tuýt mình lại đi đến và nói:
- CSGT: Xin lỗi anh, lúc nãy chúng tôi có chút nhầm lẫn, mời anh tiếp tục lưu
thông.
Nguồn: FB/Baoduhoc
Minh Trí
Hiến pháp năm 2013 đã có một chương ghi đủ các “quyền con người” nhưng thực hiện các quyền này là “do pháp luật quy định”. Nếu pháp luật không quy định hoặc pháp luật có quy định nhưng các cơ quan nhà nước không thực hiện thì những “quyền con người” ghi trong hiến pháp chỉ là thứ dối trá, mị dân. Các nhà nước độc tài đã, đang và sẽ sử dụng pháp luật với thủ đoạn như vậy để tiếp tục lần khất, khước từ quyền con người.
Trong những năm gần
đây, quyền con người ở Việt Nam có thay đổi tiến bộ nhưng còn xa mới đáp ứng được
nhu cầu của người dân. Đó là việc chính quyền đã phải thừa nhận hoặc không thể
ngăn cản được một số quyền con người cơ bản như: quyền về sở hữu, quyền kinh
doanh, quyền cư trú, đi lại, khiếu nại, tố cáo; quyền tự do ngôn luận, tiếp cận
thông tin, hội họp, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…Các quyền này được thực hiện
không phải là mong muốn của chính quyền mà là do yêu cầu phát triển kinh tế thị
trường, do đòi hỏi của người dân, khoa học công nghệ, internet và áp lực hội nhập
luật chơi quốc tế. Nhà nước đã khiên cưỡng chống lại các nhu cầu về quyền con
người cho đến khi không nứu, giữ được thì phải buông.
Công văn số 599/BNV
–TCPCP, ngày 28/02/2014 của Bộ Nội vụ vừa qua không chấp nhận về việc đề nghị
Thành lập Hội Dân oan Việt Nam, thể hiện rõ bản chất của thể chế toàn trị đối với
các quyền con người nói chung và quyền lập hội nói riêng kể cả các quyền đó được
ghi trong hiến pháp. Để chủ động giành lấy quyền con người một cách chủ động và
hiệu quả, việc lập hội là tất yếu. Thành lập hội sẽ trở thành thực tế khi nhà
nước không còn phương cách nào khác để khước từ nó.
Nếu chỉ xin phép nhà nước
cho lập hội thì sẽ không bao giờ làm được. Bản thân việc thành lập hội không vi
phạm bất cứ điều khoản pháp luật nào, vấn đề là hội đó có những hành vi vi phạm
pháp luật hay không? Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành không có “tội lập hội”.
Nhưng những người tham gia thành lập hội cần phải đối mặt với một thực tế là để
duy trì chế độ toàn trị chính quyền sẽ không từ một thủ đoạn nào để ngăn cản
người dân muốn đòi “quyền con người” tự nhiên, chính đáng.
Quyền con người sẽ
không thành hiện thực nếu không có hội. Lập hội là việc phải làm đầu tiên để thực
hiện các quyền con người. Cần tiến hành song song: vừa hình thành trên thực tế
và vừa đấu tranh trên mặt trận pháp lý.
Hà nội, ngày 2 tháng 3 năm 2014
Minh Trí
PHẠM ĐOAN TRANG
Không
riêng gì Việt Nam, ở tất cả các quốc gia trên thế giới, an ninh quốc gia luôn
là một lý do cực kỳ xác đáng để nhà nước can thiệp và hạn chế quyền tự do của
người dân. Điểm khác biệt là mức độ nhà nước lợi dụng vấn đề ''an ninh quốc
gia'' để giới hạn quyền của dân chúng và trấn áp những người dám đối đầu với
chính quyền (hay là những người bất đồng chính kiến). Chính quyền càng độc tài
thì càng sử dụng ngón võ ''an ninh quốc gia'' này một cách tùy tiện, vô tội vạ
hơn.
Để minh họa khái niệm ''an ninh quốc gia''...
Cuối
tháng 1 vừa qua, anh Nguyễn Hồ Nhật Thành, 28 tuổi, lên đường đi Mỹ tham dự một
cuộc vận động nhân quyền nhân phiên Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) của Việt
Nam, theo lời mời của một số tổ chức phi chính phủ quốc tế. Chú ý rằng UPR là một
cơ chế bảo vệ nhân quyền của Liên Hợp Quốc, được coi như một sáng kiến bởi nó
cho phép khối xã hội dân sự của một quốc gia tham gia đánh giá và báo cáo về
tình hình nhân quyền của nước mình cho Liên Hợp Quốc.
Visa
đã được cấp và vé máy bay đã mua, nhưng anh Thành lại bị an ninh cửa khẩu chặn
lại ở sân bay Tân Sơn Nhất với lý do chung chung là ''vì an ninh quốc gia...''
(có dấu ba chấm).
Sau
khi anh Thành có đơn đề nghị làm rõ tại sao anh không được xuất cảnh, Cục Quản
lý Xuất Nhập Cảnh (ở nước ta thì nó trực thuộc Bộ Công an) có thư trả lời vào
ngày 21/2, rằng đó là ''vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn
xã hội''.
Trước
đó bốn tháng, vào ngày 21/10/2013, Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội ra quyết định
đình chỉ giải quyết một vụ án hành chính sơ thẩm mà người kiện là bà Bùi Thị
Minh Hằng, khởi kiện Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Thế Thảo vì ông này đã tống
bà vào ''cơ sở giáo dục'' 5 tháng. Tòa án cũng nại lý do nội dung khiếu kiện của
bà Bùi Thị Minh Hằng ''có liên quan đến lĩnh vực an ninh''.
Trước
đó nữa, năm 2009, một số blogger ở Việt Nam (trong đó có người viết bài này) bị
bắt giam theo Điều 258 Bộ luật Hình sự (lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm hại
lợi ích của Nhà nước). Không rõ quyền tự do dân chủ nào đã bị lợi dụng và mức độ
thiệt hại của Nhà nước đến đâu. Còn hành vi mà cơ quan an ninh căn cứ vào đó để
khép tội là ''in áo chống dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên''. Hành vi in áo
này được coi làxâm phạm an ninh quốc gia, hoặc có lúc lại được gọi là xâm hại lợi ích Nhà nước.
Sơ
sơ ba trường hợp trên đủ cho ta thấy tính chất thoáng rộng và bao trùm của khái
niệm ''an ninh quốc gia'', ''lợi ích Nhà nước'' ở Việt Nam. Đó chỉ mới là ba
trong hàng trăm vụ việc từ trước đến nay, khi cơ quan công quyền sử dụng lý do
''an ninh quốc gia'' để thực hiện một mục đích gì đấy. Điều kỳ lạ là trong các
vụ việc, đương sự chỉ bị xử lý theo các điều luật trong Bộ luật Hình sự, còn
chính Luật An ninh Quốc gia của Việt Nam (ban hành năm 2004) thì lại không được
đề cập đến.
An ninh quốc gia mâu thuẫn với nhân quyền như thế
nào?
Quả
thật, an ninh quốc gia có những lúc mâu thuẫn với quyền con người. Một ví dụ cơ
bản là mâu thuẫn giữa việc giữ gìn bí mật quốc phòng, bí mật công tác điều tra
(chẳng hạn trong hoạt động chống khủng bố) và việc bảo đảm quyền tự do thông
tin, quyền được biết của người dân. Rõ ràng, những thông tin về bản đồ hệ thống
phòng thủ tên lửa của Hà Nội (nếu có) không phải là cái mà công dân Việt Nam
nào cũng được tiếp cận, nhân danh ''quyền được biết''.
Nhưng
trên thực tế, an ninh quốc gia luôn luôn là cái cớ để các nhà nước độc tài xiết
chặt quyền tự do của người dân, đàn áp tự do thông tin và báo chí, tiêu diệt
tính độc lập của tòa án, phá hoại pháp quyền. Do đó, các chuyên gia luật pháp
trên thế giới đã khuyến cáo: ''Khái niệm an ninh quốc gia phải được định
nghĩa chính xác trong luật pháp của mỗi quốc gia, theo một cách phù hợp với các
nhu cầu của một xã hội dân chủ''; ''luật pháp phải rõ ràng, không mơ hồ,
định nghĩa cụ thể và chính xác, để ai ai cũng có thể tiếp cận được và hiểu được
điều gì bị cấm...''.
Luật
An ninh Quốc gia của Việt Nam cũng có định nghĩa về an ninh quốc gia, rằng đó
là ''sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước
CHXHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc''. Định nghĩa này mơ hồ, không cụ thể, cho nên hoặc là
không áp dụng vào đâu được, hoặc là ngược lại, áp dụng vào đâu cũng được, tùy ý
thích của lực lượng an ninh. Ngoài ra, có vẻ như nó không phù hợp với các nhu cầu
của một xã hội dân chủ, mà chỉ phù hợp với chính quyền trong chế độ xã hội chủ
nghĩa.
Có
lẽ do vấp phải những ''bất cập'' đó, cho nên trong các vụ án chính trị, liên
quan đến an ninh quốc gia, đương sự lại chỉ bị xử lý do bị kết tội vi phạm các
điều khoản trong Bộ luật Hình sự. Một số điều khoản trong Bộ luật Hình sự cũng
mơ hồ không kém, ví dụ Điều 258 về ''lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm hại lợi
ích Nhà nước''.
![]() |
Biểu tình là xâm hại an ninh quốc gia? Hay đàn áp biểu tình mới là xâm hại an ninh quốc gia và an ninh của người khác?
|
An ninh quốc gia, lợi ích Nhà nước phải chính đáng
Ý
thức được rằng khái niệm ''an ninh quốc gia'', ''lợi ích nhà nước'' luôn được
diễn giải tùy tiện theo ý nhà cầm quyền mà đại diện là cơ quan an ninh, nên các
chuyên gia luật pháp quốc tế đã chỉ rõ cả những trường hợp chính quyền nại ra
các lý do chẳng liên quan gì đến an ninh quốc gia để trấn áp quyền tự do của
người dân. Khi đó thì không còn là an ninh quốc gia, lợi ích nhà nước chính
đáng nữa.
''Không phải là chính đáng... nếu bảo vệ chính quyền
và/hoặc quan chức khỏi bị phát hiện tham nhũng; nếu che giấu thông tin về tình
hình vi phạm nhân quyền, về bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào, hoặc về hoạt
động của các cơ quan nhà nước; nếu củng cố hoặc kéo dài một lợi ích chính trị,
củng cố hoặc kéo dài thời gian tại vị của một đảng phái hay ý thức hệ; nếu đàn
áp các cuộc biểu tình được tổ chức đúng luật''.
Bản
Nguyên tắc toàn cầu về an ninh quốc gia và quyền được biết (Nguyên tắc
Tshwane), ban hành ngày 12/6/2013 sau quá trình tham vấn hơn 500 chuyên gia luật
pháp ở 70 quốc gia trên thế giới, đã xác định rõ như vậy.
Lẽ
nào Đảng và Nhà nước huy động lực lượng an ninh vào bảo vệ những cái không
chính đáng như vậy sao?
Cũng
thật may cho Đảng và Nhà nước là Nguyên tắc Tshwane này chỉ có giá trị tham khảo
chứ không ràng buộc về mặt pháp lý.
CÁC
TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC QUỐC GIA: NHỮNG VAI TRÒ ĐỐI LẬP NHAU
Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ cũng rất quan
trọng đối với nền chính trị nhân quyền quốc tế. Các tổ chức Ân xá Quốc tế,
Americas Watch, Liên minh các quyền Tự do Dân sự Mỹ và một số tổ chức khác đóng
vai trò quan trọng trong các cuộc tranh luận về chính sách Trung Mỹ những năm
1980. Ở cả Bắc Mỹ và châu Âu, các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò lớn
trong các cuộc tranh luận quốc gia về lệnh cấm vận đối với Nam Phi trong những
năm 1980.
Các tổ chức phi chính phủ – với tư cách tư nhân – có
thể hoạt động mà không chịu sự kiểm soát chính trị của chính phủ. Hơn nữa, do
không có những tham vọng chính trị lớn có thể xung đột với các mục tiêu nhân quyền
nên các tổ chức phi chính phủ thường ở vị trí thuận lợi hơn khi nêu ra những
quan ngại về nhân quyền. Do tính chất phi đảng phái và hoạt động có tiêu điểm,
nên đôi khi các tổ chức phi chính phủ có thể nêu lên những vấn đề nhân quyền
trong phạm vi một quốc gia mà các tổ chức khác không làm được, điển hình ở
những quốc gia mà hoạt động chính trị độc lập bị đàn áp và xã hội dân sự yếu.
Những
điểm mạnh và yếu
Tuy nhiên, sức mạnh của các tổ chức phi chính phủ có
giới hạn. Họ phải dựa vào sức mạnh của việc công khai các
vụ vi phạm và tính thuyết phục. Rất nhiều quốc gia đã
sử dụng quyền hạn để ép thành viên các nhóm nhân quyền địa phương thành những
nạn nhân mới. Một số quốc gia cấm tài trợ bên ngoài cho các tổ chức phi chính
phủ, hoặc đặt ra những quy định đăng ký hoạt động phiền phức nhằm cản trở công
việc của họ. Các quốc gia có chủ quyền có hầu hết những điểm mạnh và điểm yếu
giống các tổ chức phi chính phủ. Các quốc gia phải điều hòa nhiều lợi ích khác
nhau trong chính sách đối ngoại của họ. Các chính phủ có xu hướng xây dựng
chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia của họ, và điều này có nghĩa
là việc ủng hộ nhân quyền có thể bị hạn chế để ưu tiên cho các mục tiêu
khác.Tuy nhiên, khi các quốc gia quyết định theo đuổi các mục tiêu nhân quyền,
họ sẽ sở hữu các nguồn lực, các kênh ảnh hưởng lớn và cả khả năng công khai mà
các tổ chức phi chính phủ không có.
NHỮNG
PHÁT TRIỂN GẦN ĐÂY VỀ NHÂN QUYỀN
Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ở Viên năm 1993 giúp
thu hút lại sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề nhân quyền trên thế giới
thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh. Việc Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thành lập các
tòa án xét xử tội phạm chiến tranh ở Nam Tư cũ và Ru-an-đa năm 1993 và 1994 dẫn
tới sự hình thành Luật về xung đột vũ trang và Luật nhân đạo quốc tế nhằm bảo
vệ dân thường và những người không tham chiến trong các cuộc nội chiến này. Các
tòa án đặc biệt cũng thành lập ở Sierra Leone năm 2002 và Căm-pu-chia năm 2003
để truy tố các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự vì những hành vi tàn bạo trong
thời kỳ chiến tranh và diệt chủng. Mặc dù Mỹ không tham gia Hiệp ước Rome và tỏ
ra e dè về phạm vi điều chỉnh của Hiệp ước, nhưng Tòa án Hình sự Quốc tế đã
được thành lập năm 1998 theo Hiệp ước này và được Hội đồng Bảo an ủy nhiệm truy
tố các vụ vi phạm nhân quyền trong cuộc xung đột Darfur, Su-đăng.
Hội nghị Phụ nữ Thế giới lần thứ 4 của Liên Hợp Quốc
tại Bắc Kinh năm 1995 đã cố gắng đưa các vấn đề của phụ nữ vào nội dung chính
của các cuộc thảo luận về nhân quyền quốc tế. Ngân hàng Thế giới với việc nhấn
mạnh “quản lý hiệu quả” đã nêu bật những vấn đề nhân quyền quan trọng.
Ủy ban châu Âu và Liên minh châu Âu nhấn mạnh quốc gia
nào muốn gia nhập các cơ cấu chính trị của châu Âu đều phải có chính sách bảo
vệ nhân quyền. Năm 2002, Mỹ đã thành lập Quỹ đối phó với các Thách thức Thiên
niên kỷ nhằm hỗ trợ kinh tế cho các nước quản lý đất nước một cách dân chủ, đầu
tư cho người dân và khuyến khích tự do kinh tế.
Công
khai hóa các vụ vi phạm
Một phát triển tích cực khác nữa là cộng đồng quốc tế
ngày càng tập trung lên án những kẻ vi phạm nhân quyền. Các tổ chức ở cấp độ
quốc gia, khu vực và toàn cầu đã tạo áp lực lớn khiến các quốc gia không thể
không có trách nhiệm công khai về thực tiễn nhân quyền của họ. Chúng ta không
nên đánh giá thấp giá trị của việc công khai các vụ vi phạm khiến các quốc gia
phải thấy hổ thẹn mà có những hành vi tốt hơn. Ngay cả những chính phủ hà khắc
cũng quan tâm đến uy tín quốc tế của họ.
Ví dụ, cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980,
chính quyền quân sự Argentina đã có những nỗ lực ngoại giao đáng kể nhằm
ngăn chặn các cuộc điều tra của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Hơn nữa, việc
công khai các vụ vi phạm ít nhất cũng giúp được một vài trong số rất nhiều nạn
nhân nổi bật bị đàn áp giành lại được một mức độ tự do nào đó, thậm chí đôi khi
còn tránh được hình phạt. Internet tạo điều kiện dễ dàng hơn để các nhóm nhân
quyền liên kết với nhau và công khai hóa các vụ vi phạm nhân quyền. Những kỳ vọng
và các chuẩn mực quốc gia và quốc tế đang được thay đổi theo hướng tốt hơn.
Trong thế giới ngày nay, ý tưởng nhân quyền có sức mạnh đạo lý và khả năng huy
động khó có thể kháng cự được. Và khi ngày càng nhiều người dân trên thế giới ý
thức được bản thân họ có những quyền bất khả xâm phạm, thì đòi hỏi về nhân
quyền khiến những kẻ độc tài phải trốn chạy, còn chính phủ của họ sẽ tan thành
mây khói. Về ngắn hạn, thanh gươm có thể mạnh hơn lời nói. Nhưng nhiệm vụ của
những người ủng hộ nhân quyền – dù ở bất cứ đâu – là một nhiệm vụ lâu dài và
cao cả, đó là nói lên sự thật. Và một trong những bài học tâm huyết nhất trong
lịch sử hiện đại của chúng ta là sự thật sẽ chiến thắng.
Trung tâm Hoa Kỳ
Phòng Thông tin-Văn hóa, Đại sứ
quán Hoa Kỳ
Tầng 1, Rose Garden Tower, 170
Ngọc Khánh, Hà Nội
Tel: (04) 3850-5000; Fax: (04)
3850-5048; Email: HanoiAC@state.gov
GIÁM
SÁT QUỐC TẾ VÀ CƠ CHẾ THỰC THI
ít nhất về mặt lý thuyết, các quốc gia ngày càng có
trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế về tình hình nhân quyền của họ. Hơn 3/4
quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn các Công ước Quốc tế về Nhân quyền. Công
ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền Dân sự và Chính trị đã thành lập một
ủy ban giám sát gồm các chuyên gia độc lập – gọi là Ủy ban Nhân quyền. Chức
năng chính của Ủy ban này là xem xét các báo cáo định kỳ mà các nước trình lên.
Các ủy ban tương tự cũng đã được thành lập thông qua các Công ước Nhân quyền
Quốc tế về phân biệt chủng tộc, quyền của phụ nữ, chống tra tấn, quyền trẻ em
cũng như các Công ước mới về quyền của người tàn tật và lao động di cư.
Động
lực cải thiện tình hình nhân quyền
Giám sát và báo cáo không thể buộc các quốc gia thay
đổi thực tiễn nhân quyền của họ. Tuy nhiên, còn có những động lực khác đối với
những nước muốn cải thiện hoặc bảo vệ thành tích nhân quyền của họ. Trong quá
trình chuẩn bị báo cáo, họ có thể phát hiện ra những lĩnh vực cần phải được cải
thiện. Điều này có thể là một nhắc nhở đối với các quan chức về nghĩa vụ pháp
lý quốc tế của họ. Ủy ban Nhân quyền châu Âu thuộc Hội đồng châu Âu có một hệ
thống khiếu nại rất mạnh. Ủy ban này sau đó chuyển thành Tòa án Nhân quyền châu
Âu đã đưa ra những quyết định ràng buộc về pháp lý trong hàng trăm vụ kiện liên
quan đến hàng loạt vấn đề, trong đó có những vấn đề nhạy cảm như tình trạng
khẩn cấp. Trong hệ thống châu Âu, các quốc gia đã trao một phần thẩm quyền thực
thi nhân quyền cho một cộng đồng chính trị khu vực lớn hơn.
Trong lĩnh vực này các tổ chức khu vực ở châu Mỹ và
châu Phi không mấy thành công. Thế giới A-rập và châu Á vẫn chưa có các ủy ban
nhân quyền khu vực, mặc dù Diễn đàn châu Á Thái Bình Dương được thành lập năm
1996 với sứ mệnh ủng hộ nỗ lực hợp tác khu vực để “thành lập và phát triển các
thể chế quốc gia nhằm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong khu vực”. Cũng đã có
kế hoạch thành lập Ủy ban Nhân quyền ASEAN mới và một Tòa án Nhân quyền châu
Phi mới. Sức mạnh và phạm vi áp dụng các biện pháp giám sát quốc tế phụ thuộc
vào việc các nước sẵn sàng sử dụng và tham gia thực hiện các biện pháp đó. Tình
trạng này vẫn là một vấn đề nghiêm trọng và dai dẳng.
Báo
cáo điều tra và ủng hộ
Một loại hình cơ chế giám sát nhân quyền đa phương
khác là báo cáo điều tra và ủng hộ. Đi tiên phong trong lĩnh vực này là Ủy ban
Nhân quyền liên Mỹ. Những báo cáo về Chi-lê của tổ chức này trong những năm
1970 và 1980 là một nhân tố quan trọng trong việc phơi bày những vụ vi phạm
nhân quyền của chính phủ Pinochet. Báo cáo của tổ chức này về Nicaragua năm
1978 đã đóng góp quan trọng đưa chính phủ Somoza đến hồi kết.
Trong hai thập kỷ qua, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc
đã nỗ lực đáng kể trong việc nghiên cứu tình hình các nước, trong đó có những
nước tình hình chính trị đáng quan tâm như Guatemala, I-ran và My-an-ma. Cụ
thể, ủy ban đã hoạt động thông qua “báo cáo viên đặc biệt” – một chuyên gia độc
lập kiêm điều tra viên. “Báo cáo viên đặc biệt” này bên cạnh nhiệm vụ việc báo
cáo chính thức cho ủy ban còn cố gắng duy trì đối thoại liên tục với các chính
phủ đang bị điều tra nhằm duy trì sự hiện diện lâu dài và thiết lập một kênh
ảnh hưởng. Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc cũng cử ra các báo cáo viên hoặc
thành lập các nhóm làm việc để điều tra các vụ mất tích, giết hại và giam giữ
tuỳ tiện, không khoan dung tôn giáo, các vụ vi phạm nhân quyền vì toan tính vụ
lợi và phân biệt chủng tộc. Năm 2006, Ủy ban Nhân quyền đã bị giải tán để thành
lập một Hội đồng Nhân quyền nhỏ hơn. Hội đồng Nhân quyền mới này có sự khởi đầu
đầy khó khăn. Hội đồng bị chỉ trích vì bỏ các báo cáo viên đặc biệt ở các nước
như Belarus và Cuba mà không có lý do rõ ràng. Hơn nữa, Hội đồng còn duy trì
tình trạng phân biệt đối xử khi xây dựng chương trình nghị sự lâu dài cho riêng
một nước, đó là Israel liên quan tới tình hình Palestin. Cơ chế nhân quyền mới
ở Geneva cũng khiến vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong các phiên họp
chính thức của Hội đồng bị suy giảm và tiếp tục loại Israel ra khỏi bất cứ nhóm
khu vực nào hoạt động ở Geneva. Cũng có hy vọng rằng cái gọi là “đánh giá định
kỳ tình hình toàn cầu” có thể là một động lực để các thành viên Hội đồng để cải
thiện thực tiễn nhân quyền của họ. Rõ ràng là uy tín đạo lý của mỗi cơ chế nhân
quyền phần lớn phải phụ thuộc vào sự công bằng của nó.
NHỮNG
ĐÓNG GÓP CỦA MỸ
Mỹ đóng vai trò đặc biệt trong việc phát triển và ủng
hộ các ý tưởng và thực tiễn về nhân quyền. Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 theo đó
các thuộc địa Mỹ tuyên bố tách khỏi nước Anh, khẳng định rằng “mọi người sinh
ra đều có quyền bình đẳng”. Quan trọng không kém, Tuyên ngôn Độc lập còn khẳng
định quyền của người dân được phá bỏ những ràng buộc chính trị áp bức. Với Hiến
pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền của Mỹ, thế giới lần đầu tiên chứng kiến thử
nghiệm trên thực tế việc xây dựng một chính phủ mà sự vận hành của nó được đánh
giá dựa trên mức độ tôn trọng và bảo vệ các quyền của người dân. Do vậy, các
quyền được người Mỹ coi là một đặc điểm trong di sản quốc gia của họ. Những
người Mỹ đầu tiên không nói đến “nhân quyền” mà nói đến tự do và các quyền tự
do. Rất nhiều trong số những người dân thuộc địa đầu tiên đến Tân Thế giới để
tìm kiếm quyền tự do tôn giáo của họ đã bị tước bỏ ở châu Âu thế kỷ XVII. Khi
hình thành các cộng đồng, qua thời gian họ đã phát triển ý thức về sự khoan
dung tôn giáo và mong muốn xây dựng chính quyền tự trị. Khi thời gian đã chín
muồi để những người dân thuộc địa Mỹ tách khỏi nước Anh thì lúc đó họ đã xây
dựng được luật và các tập quán công nhận quyền tự do ngôn luận, tự do hành đạo
và tự do lập hội. Quyền kiến nghị chính phủ, quyền có bồi thẩm đoàn và có tiếng
nói trong việc quản lý những vấn đề của chính họ là những quyền khác mà họ đã
nuôi dưỡng, ấp ủ. Tât cả những quyền này là những giá trị trụ cột trong Tuyên
ngôn Độc lập năm 1776, một đoạn sẽ được trích dưới đây. Tác giả chính của Tuyên
ngôn Độc lập, Thomas Jefferson, sau này trở thành tổng thống thứ ba của nước
Mỹ.
“Sự
thật hiển nhiên là mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được trong đó có quyền sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền này, các chính phủ phải do
dân bầu ra, quyền lực là quyền lực của nhân dân. Nếu chính phủ nào hủy hoại
những mục tiêu này thì người dân có quyền thay đổi hoặc lật đổ chính phủ và
hình thành nên chính phủ mới, dựa trên những nguyên tắc và tổ chức quyền lực
theo hình thức mà người dân cho là chắc chắn sẽ đảm bảo được sự an toàn và hạnh
phúc của họ.
Tuyên
ngôn nhân quyền
Năm 1787, đại diện của 12 trong số 13 bang đầu tiên đã
gặp nhau ở Philadelphia, bang Pennsylvania, để soạn thảo Hiến pháp Mỹ. Họ đã
soạn thảo một văn kiện về nền dân chủ thỏa hiệp và đại diện, phù hợp với những
thay đổi trong suốt hơn 200 năm. Rất nhiều người lúc đầu phản đối Hiến pháp
mới. Họ chỉ chấp thuận văn kiện này nếu một loạt điều bổ sung đảm bảo các quyền
tự do dân sự – những quyền tự do đã được quy định trong hầu hết hiến pháp các
nước – được thêm vào Hiến pháp. Do vậy, 10 điều bổ sung dưới đây, được gọi là
Tuyên ngôn Nhân quyền, đã được đưa vào Hiến pháp năm 1791. Kể từ khi Tuyên ngôn
Nhân quyền được đưa ra, Hiến pháp Mỹ chỉ có thêm 17 điều sửa đổi bổ sung nữa.
Điều
bổ sung sửa đổi I - Quốc
hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự
do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và
kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.
Điều
bổ sung sửa đổi II - Xét
thấy lực lượng dự bị có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh
của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không
bị vi phạm.
Điều
bổ sung sửa đổi III - Không
một quân nhân nào trong thời bình được đóng quân trong bất cứ nhà dân nào nếu
không được sự đồng ý của chủ nhà, và ngay trong thời chiến cũng chỉ theo qui
định của luật pháp.
Điều
bổ sung sửa đổi IV - Quyền
của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự
khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không được vi phạm. Không một lệnh, trát nào
được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận,
đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ.
Điều
bổ sung sửa đổi V - Không
một ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về một tội nghiêm trọng hay một tội xấu xa
khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Bồi thẩm đoàn, trừ những trường
hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong lực lượng dự bị, khi đang thi
hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng xã hội gặp hiểm nguy. Không
một ai sẽ bị kết án hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân
thể; không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân mình trong một
vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không qua một
quá trình xét xử theo đúng luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào
việc công mà không được bồi thường thích đáng.
Điều
bổ sung sửa đổi VI - Trong
mọi trường hợp truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử một cách nhanh
chóng và công khai bởi một Bồi thẩm đoàn công bằng của bang hoặc khu vực nơi
tội trạng xảy ra, nơi đã được pháp luật chỉ định trước; bị cáo phải được thông
báo về tính chất và lý do buộc tội, được đối chất với các nhân chứng chống lại
mình, được quyền triệu tập những nhân chứng để biện minh và được sự giúp đỡ của
luật sư bào chữa.
Điều
bổ sung sửa đổi VII - Trong
những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu giá trị tranh chấp quá 20 đôla, thì
quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn sẽ được tôn trọng và không một vụ việc nào
đãđược Bồi thẩm đoàn xét xử lại phải xem xét lại lần nữa ở bất cứ tòa án nào
của Hoa Kỳ, mà phải căn cứ theo các quy tắc của thông luật.
Điều
bổ sung sửa đổi VIII - Không
đòi hỏi những khoản tiền bảo lãnh quá cao, không áp đặt những khoản tiền phạt
quá mức và không áp dụng những hình phạt dã man và khác thường.
Điều
bổ sung sửa đổi IX - Việc
liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp
những quyền khác của người dân.
Điều
bổ sung sửa đổi thứ X - Những
quyền lực không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không bị ngăn cấm đối với
các bang, thì thuộc về các bang cụ thể hoặc nhân dân.
Các
vấn đề về nhân quyền
Dĩ nhiên trong di sản Mỹ cũng có những mảng tối. Chế
độ nô lệ được chấp nhận ở các bang miền Nam trong suốt 75 năm đầu tiên của nền
Cộng hòa Mỹ. Tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, các khu công
cộng và định kiến xã hội là những vấn đề nổi cộm trong suốt thế kỷ thứ hai.
Người Mỹ bản địa bị buộc phải di chuyển về phía tây.
Họ bị mất nhà cửa, đất đai và nhiều khi còn mất mạng.
Phụ nữ không được quyền bầu cử, không được tham gia bồi thẩm đoàn, thậm chí
không có quyền sở hữu tài sản trong vai trò người vợ. Tuy nhiên, một trong
những đặc điểm của nền dân chủ Mỹ là các cơ chế tự điều chỉnh bầu cử và các tòa
án đều có xu hướng sửa chữa những sai lầm của những thời kỳ trước. Riêng ý
tưởng bình đẳng cũng đã giúp giải quyết các tệ nạn xã hội.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã ủng hộ một số
chế độ quân sự độc tài tàn bạo thông qua hỗ trợ tài chính và quân sự miễn là họ
ủng hộ các lợi ích kinh tế và địa chính trị của Mỹ. Gần đây sau sự kiện 11/9,
Mỹ bị chỉ trích về việc đối xử với những kẻ bị tình nghi khủng bố và một số vụ
lạm dụng tù nhân của quân đội Mỹ trong chiến tranh I-rắc. Ranh giới các quyền
trong các trường hợp xung đột liên quan đến khủng bố – những kẻ rút cục chỉ cố
gắng để phá hoại quyền của mọi người – vẫn đang được tranh luận ở các xã hội
văn minh.
Một số nhóm bày tỏ quan ngại về hình phạt tử hình, sự
hiện diện pháp lý đầy đủ trong các vụ án tử hình, cũng như số lượng nam giới là
người thiểu số bị tù vì các tội hình sự. Đã có các tranh luận về việc những
người bị kết án sau khi mãn hạn tù bị tước quyền công dân, và có cả các cuộc
thảo luận về những nhóm sắc tộc thiểu số. Một lần nữa người ta lại nhận thấy
sức mạnh của một ý tưởng – ví dụ ý tưởng về sự bình đẳng – tạo ra một cuộc
tranh luận không ngừng.
Những
hành động tích cực
Mặc dù vậy, Mỹ cũng có nhiều thành tích về những hành
động quốc tế tích cực nhân danh nhân quyền. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ nhất,
Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đấu tranh cho quyền tự quyết dân tộc và bảo vệ
người thiểu số của cộng đồng quốc tế. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, Mỹ đổ
nhiều công sức, tiền của để duy trì và tái thiết nền dân chủ ở châu Âu và xây
dựng nền dân chủ ở Nhật Bản. Mỹ đi tiên phong trong quá trình phi thực dân hóa,
trao trả độc lập cho Phi-líp-pin năm 1946. Cùng với sự kết thúc của Chiến tranh
Lạnh, Mỹ nổi lên là nước đi đầu trong các sáng kiến đa phương về nhân đạo và
nhân quyền ở Xô-ma-li, Su-đăng, Hai-i-ti, Bosnia và nhiều quốc gia khác.
Báo
cáo Quốc hội
Theo luật, Bộ Ngoại giao Mỹ hàng năm phải trình lên
Quốc hội một số báo cáo tổng hợp về tình hình nhân quyền như sau:
· Báo cáo tình hình nhân quyền các nước đánh giá chi
tiết tình hình nhân quyền ở các nước trên thế giới.
· Ủng hộ Nhân quyền và Dân chủ mô tả những việc mà
Chính phủ Mỹ đang làm để giải quyết các vụ vi phạm nhân quyền nêu trong báo cáo
tình hình nhân quyền các nước.
· Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế đánh giá mức độ tự do
hành đạo của người dân.
· Báo cáo về nạn Buôn người điều tra hình thức nô lệ
thời hiện đại. Sau khi hoàn thiện, các báo cáo này được trình lên Quốc hội và
đưa lên Internet phổ biến trên khắp thế giới.
Ở bên ngoài, việc Mỹ sẵn sàng hành động đơn phương và
luôn cho mình là đúng đôi khi gây nên oán giận, ngay cả ở những nước chia sẻ
những giá trị trụ cột trong các chính sách của Mỹ. Không khó để chỉ ra nơi mà
những lý tưởng của Mỹ thất bại. Tuy nhiên, nước Mỹ ngày nay cũng như trong hai
thế kỷ trước vẫn là nước lãnh đạo thế giới trong cuộc đấu tranh vì nhân quyền
đang tiếp diễn. Mặc dù được chấp nhận rộng rãi, nhưng cuộc đấu tranh để thực
hiện những ý tưởng đó vẫn đang diễn ra trên toàn cầu.
NHÂN
QUYỀN LÀ MỘT VẤN ĐỀ QUỐC TẾ
Ngày
nay, hầu hết các quốc gia ở mọi khu vực trên thế giới, ở mọi trình độ phát
triển, đều khẳng định cam kết về nhân quyền. Chính phủ nào liên tục gây ra các
vụ vi phạm nhân quyền trắng trợn đều bị coi là bất hợp pháp.
Nhưng
không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Tiến bộ hay thiếu tiến bộ về nhân
quyền của một quốc gia mới trở thành một chủ đề quan hệ quốc tế trong khoảng
một nửa thế kỷ nay. Trước Chiến tranh Thế giới Thứ hai, phản ứng trước những vụ
tàn sát các nhóm thiểu số trong phạm vi một quốc gia chỉ được thể hiện dưới
hình thức các tuyên bố lịch sự là không ủng hộ. Thậm chí những vụ vi phạm bớt
trắng trợn hơn không được coi là chủ đề thích hợp để có thể đối thoại
ngoại giao. Việc một chính phủ đối xử như thế nào với công dân trong phạm vi
lãnh thổ của họ được coi là vấn đề thuộc chủ quyền – nghĩa là quyền lực tối cao
của chính phủ đó đối với các vấn đề nội bộ. Trên thực tế, các nước khác và cộng
đồng quốc tế được cho là có nghĩa vụ pháp lý quốc tế không can thiệp vào các
vấn đề đó.
Cú sốc của cuộc tàn sát người
Do Thái
Trong
cuộc thảm sát người Do Thái hồi Chiến tranh Thế giới Thứ hai, phátxít Đức và
những kẻ đồng lõa đã giết hại một cách có hệ thống hàng triệu người – người Do
Thái châu Âu, người La Mã, những người đồng tính – bao gồm đàn ông, phụ nữ và
trẻ em. Ý thức trách nhiệm trước cuộc thảm sát người Do Thái đã dẫn đến cam kết
rằng những hành vi tàn bạo của cuộc thảm sát sẽ không được phép tái diễn. Nhân
quyền đã trở thành dòng chảy chính của quan hệ quốc tế. Trước khi xảy ra cuộc
thảm sát người Do Thái một số nước biện minh rằng việc nhà nước đối xử như thế
nào đối với công dân của họ là vấn đề nội bộ. Do vậy, việc tàn sát công dân của
một nước không phải là một tội danh được quy định theo luật pháp quốc tế. Tòa
án Xét xử Tội phạm Chiến tranh Nuremberg năm 1945 đã giúp thay đổi thực tiễn
này. Các phiên tòa xét xử – trong đó những tướng lĩnh phát-xít cấp cao đã phải
chịu bản án vì những hành vi của mình – đã cho ra đời khái niệm về tội ác chống
lại nhân loại. Lần đầu tiên, các quan chức phải chịu trách nhiệm pháp lý trước
cộng đồng quốc tế về những tội danh chống lại cá nhân công dân. Tuy nhiên, tại
Liên Hợp Quốc, nhân quyền mới thực sự trở thành một chủ đề của quan hệ quốc tế.
Nhân quyền chiếm một vị trí nổi trội trong Hiến chương Liên Hợp Quốc đưa ra năm
1945. Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn Nhân
quyền Toàn cầu. Tuyên ngôn này khẳng định cách thức các nhà nước đối xử với
công dân họ là vấn đề quốc tế chính đáng cần quan tâm và phải tuân theo các
chuẩn mực quốc tế.
Tác động của Chiến tranh Lạnh
Tuy
nhiên, không phải mọi việc đều diễn ra suôn sẻ. Trong những năm sau Chiến tranh
Thế giới Thứ hai, một cuộc chiến ý thức hệ căng thẳng đã nổ ra giữa các nước
cộng sản và các nước tư bản có tác động tới toàn thế giới.
“Chiến
tranh Lạnh” kéo dài cho đến khi Liên Xô sụp đổ năm 1991. Giống như Mỹ đôi lúc
sẵn sàng bỏ qua những vụ vi phạm nhân quyền ở các chế độ chống cộng sản “thân
thiện” thì Liên Xô sẵn sàng sử dụng vũ lực khi cần thiết để đảm bảo các chế độ
độc tài “thân thiện” ở trong vòng ảnh hưởng của mình. Hơn thế nữa, một số quốc
gia sẵn sàng chấp nhận sự kiểm soát đa phương đối với các thực tiễn nhân quyền
của họ, nói gì đến việc thực thi nhân quyền ở cấp quốc tế. Liên Hợp Quốc không
phải là một chính phủ thế giới. Tổ chức này không thể làm gì nếu thành viên của
nó – các quốc gia có chủ quyền – không cho phép. Rốt cuộc thì trong hai thập kỷ
đầu của Chiến tranh Lạnh, không khối nước nào sẵn sàng cho phép Liên Hợp Quốc
được làm gì nhiều trong lĩnh vực nhân quyền. Tuy nhiên, vào giữa những năm 1960
khối Á-Phi đã trở thành nhóm lớn nhất tại Liên Hợp Quốc. Những nước này – từng
chịu sự cai trị của chế độ thực dân – có mối quan tâm đặc biệt về nhân quyền.
Họ nhận thấy sự cảm thông từ khối các nước Xô-viết, một số nước ở châu Âu và
châu Mỹ, trong đó có Mỹ. Do vậy, Mỹ lại một lần nữa bắt đầu chú ý tới nhân
quyền.
Điều
quan trọng nhất là thực tế này đã dẫn đến sự hoàn thành các Công ước Quốc tế về
Nhân quyền vào năm 1966. Cùng với Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu, những công
ước này là sự khẳng định mạnh mẽ nhất về các quyền con người được quốc tế công
nhận. Tuy nhiên, tính toàn diện của các Công ước đòi hỏi Liên Hợp Quốc phải
chuyển hoạt động vì nhân quyền của tổ chức này từ việc định ra các tiêu chuẩn
sang giám sát việc các quốc gia tuân thủ những tiêu chuẩn này như thế nào. Đây
là lĩnh vực mà Liên Hợp Quốc đã không đạt được tiến bộ nào trong hai thập kỷ
đầu tiên. Mặc dù những khái niệm trụ cột về các chuẩn mực nhân quyền đã được
làm rõ vào giữa những năm 1960, nhưng việc thực hiện những chuẩn mực này về cơ
bản vẫn phụ thuộc vào thiện chí của từng chính phủ.
Sự hồi sinh của nhân quyền dưới
thời Carter
Khi
Jimmy Carter trở thành Tổng thống Mỹ năm 1977, ông đã đưa nhân quyền trở thành
một vấn đề quốc tế. Carter đã biến các quyền phổ quát trở thành một ưu tiên
trong chính sách đối ngoại của Mỹ, và khuyến khích những người ủng hộ nhân
quyền trên toàn thế giới. Carter cố gắng tách nhân quyền quốc tế khỏi nền chính
trị Đông-Tây của Chiến tranh Lạnh và cuộc tranh luận Bắc-Nam giữa các nước công
nghiệp và các nước phi công nghiệp về các vấn đề kinh tế. Cố gắng này đã mang
đến động lực mới và làm gia tăng tính hợp pháp của các tổ chức nhân quyền ở
khắp mọi nơi.
Tiến trình Helsinki
Thời
kỳ giữa thập kỷ 1970 chứng kiến việc đưa nhân quyền trở thành nội dung chính
trong chính sách đối ngoại song phương và đa phương. Mỹ và các nước châu Âu bắt
đầu xem xét các thực tiễn nhân quyền trong các chính sách viện trợ của họ. Và
Đạo luật Cuối cùng Helsinki năm 1975 công khai đưa nhân quyền vào nội dung quan
hệ Mỹ-Liên Xô. Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) bắt đầu vào đầu những
năm 1970 với một loạt đàm phán trong đó có sự tham gia của Mỹ, Ca-na-đa, Liên
Xô và hầu hết các nước châu Âu. Các cuộc bàn thảo tập trung vào việc giải quyết
các vấn đề giữa phương Đông Cộng sản và phương Tây dân chủ. Đạo luật cuối cùng
của CSCE, đạt được năm 1975 tại Helsinki, Phần Lan và được 35 nước ký kết được
gọi là Thỏa ước Helsinki. Thỏa ước này nêu ra 10 nguyên tắc cụ thể, trong đó có
tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản như tự do tư tưởng, tự do lương
tri, tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Nhiều chuyên gia cho rằng tiến trình
Helsinki khiến các chế độ độc tài cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
Cuối những năm 1980, Chiến tranh Lạnh kết thúc và ngày 25/12/1991 không còn lá
cờ Xô Viết tại điện Kremlin. CSCE ở thời điểm đó tổ chức các hội nghị và hội
thảo, nhưng giờ đây đã có vai trò lớn hơn đó là quản lý những thay đổi lịch sử
đang diễn ra ở châu Âu. Tên của nó được đổi thành Tổ chức An ninh và Hợp tác
châu Âu (OSCE). Hiện nay OSCE là tổ chức an ninh khu vực lớn nhất trên thế
giới, với 56 nước thành viên ở châu Âu, Trung Á và Bắc Mỹ. Tổ chức này cũng có
các đối tác ở châu Á và khu vực Địa Trung Hải. Nhiều người coi OSCE là điển
hình cho các nỗ lực hợp tác ở các khu vực khác nhằm thúc đẩy sự tôn trọng nhân
quyền ở các nơi khác trên thế giới. Tuyên bố Copenhagen và những Nguyên tắc
Paris của OSCE có ảnh hưởng lớn bởi chúng là thước đo thực hiện nhân quyền,
trong đó có thành tích của các quốc gia dân chủ. Trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc,
Ủy ban Nhân quyền được hồi sinh, đứng đầu là Ca-na-đa, Hà Lan và các nước khác,
đã xây dựng những công ước mới về Quyền Phụ nữ (1979), công ước Chống tra tấn
(1984) và công ước về Quyền Trẻ em (1989). Các chuyên gia đã được chỉ định để
nghiên cứu và báo cáo về các vụ vi phạm nhân quyền ở ngày càng nhiều quốc gia.
Vào giữa những năm 1980, hầu hết các nước phương Tây nhất trí rằng nhân quyền
phải là ưu tiên trong chính sách đối ngoại, và hướng tới vấn đề giám sát và
thực thi nhân quyền.
Thập
kỷ 1970 là giai đoạn trong đó các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động trên
lĩnh vực nhân quyền xuất hiện với tư cách là một lực lượng chính trị quốc tế
nổi bật. Điển hình là giải thưởng Nobel Hòa bình dành cho Tổ chức Ân xá Quốc tế
năm 1977 vì đã giúp đỡ các tù nhân chính trị. Năm 1980, có khoảng 200 tổ chức
phi chính phủ ở Mỹ hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền và ở Anh cũng có số
lượng như vậy. Sự xuất hiện của các tổ chức phi chính phủ ở các nước châu Phi,
châu Á và Mỹ Latinh cũng là một diễn biến quan trọng không kém. Những tổ chức
này, bên cạnh việc ủng hộ nạn nhân các vụ lạm dụng nhân quyền, còn có ảnh hưởng
quan trọng đối với các chính sách nhân quyền quốc gia và quốc tế.
Môi trường hậu Chiến tranh Lạnh
Từ
khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nỗ lực quốc tế thúc đẩy nhân quyền được tăng
cường hơn nữa mà điển hình là sự ra đời của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc
nhằm tăng cường hoạt động giám sát quốc tế. Ở hầu hết các nước, bản chất và
giới hạn của nhân quyền thể hiện rõ hơn trong chương trình nghị sự quốc gia.
Cũng như những ý tưởng tự do kinh tế lan rộng thông qua quá trình toàn cầu hóa,
các ý tưởng khác cũng vậy. Các tổ chức nhân quyền phi chính phủ và những người
ủng hộ cho nhân quyền ngày càng có ảnh hưởng trên toàn thế giới.
Chắc
chắn, việc nêu ra các vấn đề nhân quyền đôi khi vẫn bị các nước phản ứng, điển
hình là mối quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại lớn
của nước này trong những năm sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989. Hầu hết các
nước vẫn không giải quyết hiệu quả các mối quan ngại nhân quyền quốc tế theo
yêu cầu của các tổ chức nhân quyền phi chính phủ.
Vẫn
còn các chế độ cầm quyền – ở Cuba, Bắc Triều Tiên, và những nơi khác – tiếp tục
vi phạm có hệ thống các quyền con người được quốc tế công nhận. Như trong các
báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ và rất nhiều tổ chức phi chính phủ, hầu hết các
nước trên thế giới vẫn có những vấn đề nhân quyền nghiêm trọng. Tuy nhiên, cộng
đồng quốc tế đã sẵn sàng giải quyết các vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.
Đáng tiếc là năm 1994 Liên Hợp Quốc đã không can thiệp quân sự để chặn đứng
được cuộc diệt chủng ở Ru-an-đa. Tuy nhiên ở El Salvador, các nhà giám sát nhân
quyền của Liên Hợp Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được một giải
pháp chính trị và phi quân sự hóa quốc gia này sau một thập kỷ nội chiến. Ở
Sô-ma-li, khi quốc gia này bị rơi vào cuộc chính biến, các lực lượng quân sự đa
phương đã can thiệp để cứu hàng nghìn dân khỏi bị nạn đói. Ở Căm-pu-chia, lực
lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc đã giúp đẩy lui lực lượng Việt Nam và
kiềm chế Khơ-me Đỏ, thúc đẩy việc hình thành một chính phủ được bầu lên tự do.
Ở Bosnia, cộng đồng quốc tế dưới sự lãnh đạo của Mỹ, đã sử dụng sức mạnh quân
sự để chấm dứt cuộc nội chiến đẫm máu khiến 200.000 người bị giết hại và đẩy
hai triệu người khác vào cảnh nhà tan bằng cuộc “thanh lọc sắc tộc” có hệ
thống.
Bất
chấp tầm quan trọng của nhân quyền và nền chính trị nhân đạo, những năm đầu thế
kỷ 21, cộng đồng quốc tế đang đấu tranh để ngăn chặn cuộc xung đột sắc tộc kéo
dài ở tỉnh miền tây Darfur của Su-đăng. Cuộc xung đột này mà Liên Hợp Quốc và
các tổ chức nhân quyền coi là diệt chủng đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn
người và đẩy hơn hai triệu người khác phải sống trong các trại tị nạn. Lực
lượng của Liên minh châu Phi không thể ngăn chặn được tình trạng giết chóc,
cưỡng hiếp tùy tiện và Mỹ đã phải kêu gọi Liên Hợp Quốc triển khai một lực
lượng gìn giữ hòa bình lớn ở nước này. Đồng thời, cộng đồng quốc tế, trong đó
có các tổ chức nhân quyền phi chính phủ, đã tham gia đối phó với phong trào
khủng bố quốc tế tăng mạnh điển hình là các cuộc tấn công khủng bố ở Mỹ ngày
11/9/2001 và các cuộc tấn công khủng bố khác của al Qaeda trên thế giới, từ
In-đô-nêxi-a tới Tây Ban Nha. Cũng chính những quan sát viên này đã lên tiếng
chỉ trích phản ứng của các chính phủ đối với chủ nghĩa khủng bố.










